hieuluat

Nghị quyết 56/NQ-CP phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 7/2015

  • Thuộc tính văn bản

    Cơ quan ban hành:Chính phủSố công báo:931&932-08/2015
    Số hiệu:56/NQ-CPNgày đăng công báo:18/08/2015
    Loại văn bản:Nghị quyếtNgười ký:Nguyễn Tấn Dũng
    Ngày ban hành:05/08/2015Hết hiệu lực:Đang cập nhật
    Áp dụng:05/08/2015Tình trạng hiệu lực:Còn Hiệu lực
    Lĩnh vực:Chính sách
  • CHÍNH PHỦ
    -------
    Số: 56/NQ-CP
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ---------------
    Hà Nội, ngày 05 tháng 08 năm 2015
     
    NGHỊ QUYẾT
    ------------
    CHÍNH PHỦ
     
     
    Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
    Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ.
    Trên cơ sở thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tổ chức vào ngày 27 và 28 tháng 7 năm 2015,
     
    QUYẾT NGHỊ:
     
     
    Chính phủ thống nhất đánh giá: Tình hình xây dựng luật, pháp lệnh có chuyển biến tích cực. Phần lớn các dự án luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 đã được soạn thảo, trình Chính phủ trong 6 tháng đầu năm; một số dự án luật quan trọng, phức tạp đã được cơ quan chủ trì soạn thảo chủ động báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và nội dung cơ bản để xử lý kịp thời những vướng mắc, định hướng cho việc nghiên cứu, soạn thảo, về cơ bản, các dự án luật, pháp lệnh đã được trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội bảo đảm chất lượng, thời hạn trình có tiến bộ. Các cơ quan chủ trì soạn thảo cùng với Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình thẩm tra, tiếp thu ý kiến các đại biểu Quốc hội, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật, pháp lệnh, trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua, trong đó có nhiều dự án luật quan trọng nhằm triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.
    Tuy nhiên, số lượng dự án luật, pháp lệnh xin lùi tiến độ trình Chính phủ còn nhiều. Một số dự án luật chuẩn bị chưa tốt, phải xin rút ra khỏi Chương trình hoặc xin lùi thời hạn trình Quốc hội. Chất lượng chuẩn bị một số dự án luật quan trọng nhằm triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 còn hạn chế. Vẫn chưa khắc phục được tình trạng chung là các dự án luật, pháp lệnh không được trình Chính phủ đúng thời hạn theo Quy chế làm việc của Chính phủ, gây nhiều khó khăn cho việc chuẩn bị phiên họp Chính phủ.
    Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết chưa được giải quyết vững chắc, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đề ra trong Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội. Đến nay vẫn còn số lượng rất lớn văn bản quy định chi tiết, nhất là thông tư và thông tư liên tịch, chưa được ban hành đúng tiến độ để có hiệu lực thi hành cùng với luật, pháp lệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc triển khai thi hành các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực, trong một số trường hợp tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân.
    Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quan tâm, tập trung chỉ đạo sâu sát việc nghiên cứu, soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh được phân công thuộc Chương trình 6 tháng cuối năm 2015, đặc biệt là chỉ đạo quyết liệt việc xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh được phân công, trước mắt tập trung xử lý dứt điểm số văn bản nợ đọng thuộc trách nhiệm của Bộ, ngành mình trước ngày 15 tháng 9 năm 2015 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
    Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh, các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh; chủ động phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các biện pháp xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc.
    Chính phủ thảo luận và cơ bản thống nhất về mục đích, quan điểm và những định hướng lớn xây dựng Luật về hội do Bộ Nội vụ đề xuất và nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:
    Thứ nhất, việc nghiên cứu, soạn thảo dự án Luật phải quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng; bám sát và cụ thể hóa tinh thần và nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền lập hội của công dân; đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho sự quản lý có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
    Thứ hai, bảo đảm nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của hội là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật và Điều lệ hội; dân chủ, bình đẳng, minh bạch; đề cao tính tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí;
    Thứ ba, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong nội dung của Luật về hội, trong đó có các quy định có hiệu lực chung đối với tất cả các hội được thành lập trên cơ sở quyền lập hội của công dân Việt Nam theo quy định của Hiến pháp năm 2013, đồng thời có các quy định riêng phù hợp với loại hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện và loại hội được thành lập theo các luật chuyên ngành (tổ chức xã hội - nghề nghiệp); không điều chỉnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức chính trị - xã hội được quy định trong Hiến pháp năm 2013;
    Thứ tư, Nhà nước tiếp tục cấp kinh phí hoạt động đối với 9 hội đảng đoàn; các hội đặc thù thực hiện khoán kinh phí theo lộ trình. Các hội còn lại, Nhà nước hỗ trợ kinh phí gắn với nhiệm vụ được giao (nếu có).
    Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, khẩn trương chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, trình Chính phủ xem xét, quyết định tại Phiên họp tháng 8 năm 2015.
    Chính phủ thảo luận và thống nhất với nội dung của dự án Luật do Bộ Nội vụ trình.
    Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật. Giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng, thay mặt Chính phủ, trình Quốc hội về dự án Luật.
    Chính phủ cơ bản thống nhất với nội dung của dự án Luật do Bộ Tài chính trình.
    Giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Quốc hội.
    Chính phủ cơ bản thống nhất với nội dung của dự án Luật do Bộ Tư pháp trình.
    Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Quốc hội.
    Chính phủ thảo luận và thống nhất với nội dung của dự án Luật do Bộ Tư pháp trình.
    Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật. Giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng, thay mặt Chính phủ, trình Quốc hội về dự án Luật.
    Chính phủ thảo luận và thống nhất với nội dung của dự án Pháp lệnh do Bộ Quốc phòng trình.
    Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Pháp lệnh. Giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thừa ủy quyền Thủ tướng, thay mặt Chính phủ, trình Quốc hội về dự án Pháp lệnh.
    Chính phủ cơ bản thống nhất với nội dung của dự án Luật do Bộ Ngoại giao trình.
    Giao Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến của các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Quốc hội.
    Chính phủ cơ bản thống nhất với nội dung của dự án Luật do Bộ Tư pháp trình.
    Giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến của các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Quốc hội.
    Chính phủ đã thảo luận và thống nhất cho rằng: Công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của từng ngành, vùng và địa phương nói riêng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật quy hoạch phải điều chỉnh thống nhất các loại quy hoạch phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 6 tháng 01 năm 2012 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Theo đó, Luật quy hoạch sẽ quy định các loại quy hoạch, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện và quản lý nhà nước đối với từng loại quy hoạch.
    Để có đầy đủ cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng Luật quy hoạch và bảo đảm tính khả thi của Luật này, giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, đánh giá những việc đã làm được và những hạn chế, bất cập của công tác quy hoạch trong thời gian qua, trong đó tập trung vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch kết cấu hạ tầng, quy hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên, khoáng sản và quy hoạch sản phẩm.
    Trên cơ sở đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật này, trình Chính phủ tại Phiên họp tháng 8 năm 2015 để xem xét, quyết định.
    Chính phủ đã thảo luận và thống nhất đánh giá: Trong những ngày đầu thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư, những chính sách đổi mới quan trọng của hai Luật này đã bước đầu phát huy hiệu quả, được người dân và doanh nghiệp đón nhận tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới và số vốn đăng ký đều tăng so với cùng thời gian năm 2014. Các Bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực tổ chức triển khai thi hành, bảo đảm hoạt động đăng ký doanh nghiệp và đăng ký đầu tư về cơ bản không bị gián đoạn và xáo trộn. Tuy nhiên, việc thi hành Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư đã bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc, trong đó có việc không ban hành đúng thời hạn các văn bản quy định chi tiết các Luật này; một số thủ tục hành chính chưa được hướng dẫn kịp thời đã gây lúng túng cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ quan quản lý ở địa phương trong việc áp dụng và thực hiện đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư.
    Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai các giải pháp đồng bộ để bảo đảm việc thực thi đầy đủ và có hiệu quả hai Luật này.
    Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về các giải pháp chỉ đạo, điều hành để triển khai thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư./.
     

    Nơi nhận:
    - Ban Bí thư Trung ương Đảng;
    - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
    - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
    - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
    - Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
    - Văn phòng Tổng Bí thư;
    - Văn phòng Chủ tịch nước;
    - Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
    - Văn phòng Quốc hội;
    - Tòa án nhân dân tối cao;
    - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
    - Kiểm toán Nhà nước;
    - UB Giám sát tài chính quốc gia;
    - Ngân hàng Chính sách Xã hội;
    - Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
    - Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
    - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
    - VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
    - Lưu: Văn thư, PL (3b),Th.
    TM. CHÍNH PHỦ
    THỦ TƯỚNG




    Nguyễn Tấn Dũng
  • Loại liên kết văn bản
    01
    Luật Tổ chức Chính phủ
    Ban hành: 25/12/2001 Hiệu lực: 25/12/2001 Tình trạng: Hết Hiệu lực
    Văn bản căn cứ
    02
    Nghị định 08/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ
    Ban hành: 16/02/2012 Hiệu lực: 15/04/2012 Tình trạng: Hết Hiệu lực
    Văn bản căn cứ
    03
    Hiến pháp năm 2013
    Ban hành: 28/11/2013 Hiệu lực: 01/01/2014 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    04
    Nghị quyết 67/2013/QH13 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
    Ban hành: 29/11/2013 Hiệu lực: 29/11/2013 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    05
    Luật Đầu tư của Quốc hội, số 67/2014/QH13
    Ban hành: 26/11/2014 Hiệu lực: 01/07/2015 Tình trạng: Hết Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    06
    Luật Doanh nghiệp của Quốc hội, số 68/2014/QH13
    Ban hành: 26/11/2014 Hiệu lực: 01/07/2015 Tình trạng: Hết Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
  • Hiệu lực văn bản

    Hiệu lực liên quan

    Văn bản chưa có liên quan hiệu lực
  • Văn bản đang xem

    Nghị quyết 56/NQ-CP phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 7/2015

    In lược đồ
    Cơ quan ban hành:Chính phủ
    Số hiệu:56/NQ-CP
    Loại văn bản:Nghị quyết
    Ngày ban hành:05/08/2015
    Hiệu lực:05/08/2015
    Lĩnh vực:Chính sách
    Ngày công báo:18/08/2015
    Số công báo:931&932-08/2015
    Người ký:Nguyễn Tấn Dũng
    Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
    Tình trạng:Còn Hiệu lực
  • File văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Văn bản liên quan

Văn bản mới

X