logo

Công văn 253/TANDTC-PC giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ

  • Thuộc tính văn bản

    Cơ quan ban hành: Toà án nhân dân tối cao Số công báo: Đang cập nhật
    Số hiệu: 253/TANDTC-PC Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
    Loại văn bản: Công văn Người ký: Nguyễn Trí Tuệ
    Ngày ban hành: 26/11/2018 Hết hiệu lực: Đang cập nhật
    Áp dụng: 26/11/2018 Tình trạng hiệu lực: Còn Hiệu lực
    Lĩnh vực: Dân sự, Hôn nhân gia đình

    Tóm tắt văn bản

    Ngày 26/11/2018, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn 253/TANDTC-PC về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

    Theo Tòa án nhân dân tối cao, nếu người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài mà chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ ở nước ngoài, nếu có căn cứ xác định bị đơn vẫn liên hệ với thân nhân trong nước nhưng thân nhân không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án thì coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết.

    Nếu Tòa án yêu cầu đến lần thứ hai mà nhân thân vẫn không chịu cung cấp tin tức của bị đơn thì Tòa án đưa vụ án ra xé xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

    Sau khi xét xử, Tòa án cần gửi ngay cho nhân thân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định, đồng thời tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi nhân thân của bị đơn cư trú để họ có cơ sở thực hiện kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  • TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
    -------

    Số: 253/TANDTC-PC
    V/v: Giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ---------------

    Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2018

     

     

    Kính gửi:

    - Các Tòa án nhân dân;
    - Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

     

    Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về vướng mắc trong việc giải quyết một số vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là người Việt Nam ở trong nước với bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

    Vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài là một trường hợp đặc thù; quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy, trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài, nếu thông qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ để xác định họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Tòa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử, Tòa án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

    Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án nhân dân nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.

     

    Nơi nhận:
    - Như kính gửi;
    - Các đ/c thành viên HĐTP TANDTC (để biết);
    - Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;
    - Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;
    - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
    - Bộ Tư pháp;
    - Liên đoàn Luật sư Việt Nam;
    - Hội Luật gia Việt Nam;
    - Lưu: VT VP, Vụ PC&QLKH (TANDTC).

    KT. CHÁNH ÁN
    PHÓ CHÁNH ÁN




    Nguyễn Trí Tuệ

  • Loại liên kết văn bản
    01
    Luật Hôn nhân và Gia đình của Quốc hội, số 52/2014/QH13
    Ban hành: 19/06/2014 Hiệu lực: 01/01/2015 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản được hướng dẫn
    02
    Bộ luật Dân sự của Quốc hội, số 91/2015/QH13
    Ban hành: 24/11/2015 Hiệu lực: 01/01/2017 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
  • Hiệu lực văn bản

    Hiệu lực liên quan

    Văn bản chưa có liên quan hiệu lực
  • Tải văn bản tiếng Việt

Văn bản liên quan

Văn bản mới